Việt Nam Văn Hiến
Năm Thứ 4889

www.vietnamvanhien.net



Trang Tham Luận về

Tôn Giáo và Chính Trị


Đề Mục


1- Chính Trị Và Tôn Giáo
2- Viết Cho Con: 17 - Chính Trị và Tôn Giáo
3- Ngươì Tín Hữu Chuá Kitô Trong Chính Trị
4- Tôn Giáo Và Chính Trị
5- Gợi Ý Tham Luận.








CHÍNH TRỊ VÀ TÔN GIÁO

Thiền Sư Nhất Hạnh




    Đức tin là một yếu tố quan trọng nhất trong những yếu tố cấu thành xã hội tính của con người. Nhờ xã hội tính mà các quốc gia hay các liên bang thực hiện được sự đoàn kết để thống nhất ý chí và tạo nên thế trung hòa giữa các khối trên thế giới. Không ai không công nhận tính chất trọng yếu của tôn giáo trong hiện tình chính trị cũng như trong lịch sử chính trị, và dù có sự phân định rõ rệt giữa giáo quyền và chính quyền, người ta cũng thấy vai trò quan trọng của hàm số tôn giáo trong bài toán chính trị. Auguste Comte khi chủ trương thuyết "ba thời kỳ," nói rằng thời đại chúng ta là thời đại của khoa học thực nghiệm, và mọi xây dựng đều phải thực hiện trên khoa học thực nghiệm. Theo ông thời kỳ trước thế kỷ thứ mười sáu là thời kỳ tôn giáo, từ thế kỷ mười sáu đến đầu thế kỷ thứ mười chín là thời kỳ của triết học, từ thế kỷ thứ mười chín trở về là thời kỳ của khoa học. Sự phân định ranh giới của ba thời kỳ đó không được đích xác và không cho ta thấy rõ vai trò của tôn giáo và của triết học trong hiện đại. Thực ra, ba thứ tôn giáo, triết học và khoa học đều có nguồn gốc riêng và lịch trình diễn biến riêng, và cả ba đều là những biểu hiện cụ thể cho tư tưởng nhân loại. Vào thời cổ đại, tuy không khí tôn giáo bao trùm mọi sinh hoạt nhưng tư tưởng tôn giáo vẫn còn non nớt, và ta không thể không công nhận sự hiện diện của một ít suy luận triết học tuy cũng rất ấu trĩ. Khoa học lúc này cũng đã được khởi đầu trong những hình thái đơn giản nhất. Điều này có thể nhận thức qua ý hướng tìm kiếm và sáng tạo những khí cụ và vật dụng cần cho sinh hoạt hằng ngày. Lợi dụng sức nước để giã gạo, phát sinh ra lửa để nấu nướng v.v… đó là những thành tích ban đầu của khoa học. Không có thời kỳ ấu trĩ thô vụng thì làm gì có thời kỳ trưởng thành tinh xảo ?

Từ thế kỷ thứ mười chín đến nay, khoa học tiến triển một cách vô cùng nhanh chóng, và chịu ảnh hưởng ấy, triết học cũng rất có tiến bộ. Triết học Tây phương cận đại từ độ ấy đã bắt đầu được kiến thiết trên những khám phá khoa học nên đã lìa bỏ được rất nhiều giả thuyết và huyền đàm vu vơ, thiếu căn cứ. Một mặt, triết học xông vào lĩnh vực tôn giáo để chỉ rõ những gì chỉ là thần thoại và huyển tượng, một mặt khác phóng những chân trời mới cho khoa học hướng tới. Cả ba giòng tôn giáo, triết học và khoa học vì thế đều được thúc đẩy tiến bộ. Nhận thức về tôn giáo, dù muốn công nhận hay không, cũng đã biến đổi một cách đáng kể. Triết học và khoa học không phụ thuộc vào thần học như ở thời Trung cổ nữa mà đã tách riêng ra một cách hoàn toàn độc lập và trở về chỉnh lý cho nhận thức tôn giáo.

Những tư tưởng gia quá khích đã cho rằng thời đại mới chỉ cần đến khoa học. Đây là một điều nhầm lẫn bởi vì giữa khoa học và triết học có những liên hệ mật thiết, nhất là những liên hệ có tính cách khai thông và gợi ý về phần triết học. Về phần tôn giáo, lịch sử đã chứng tỏ rằng tôn giáo là nền tảng, là yếu tố quan trọng của đoàn kết xã hội. Tín ngưỡng tính cũng là xã hội tính của con người. Nói rằng thời đại khoa học không cần đến tôn giáo hoặc nói rằng phải hủy bỏ tôn giáo tức là không nhận thức được sự thực ấy, tức là tin tưởng quá ở giá trị của thuyết tam thời kỳ của nhà triết học Pháp.

Cứ nhìn vào thực trạng xã hội thế giới ngày nay thì biết. Tôn giáo đang đóng vai trò tạo nên xã hội tính của các khối. Đại khái khối Âu Châu có Công giáo, khối Cận Đông có Hồi giáo, khối Trung Đông có Ấn giáo. Còn khối Cộng sản thì có tôn giáo Mác Xít. Những người theo chủ nghĩa ấy thì tin vào đó như con đường duy nhất của nhân loại, tin một cách thiết tha và say mê không khác nào tin ở thần minh. Lá cờ màu đỏ và chủ nghĩa xã hội là những thần tượng được tôn sùng, và ý chí của nhân dân được tập trung nơi ấy để đi đến sự hoàn thành hình thức Cộng sản đảng trị. Như thế tức là Cộng sản cũng cổ xúy cho một thứ tôn giáo. Cho nên khi hô hào diệt tôn giáo, người Cộng sản cũng chỉ muốn nói đến sự bỏ những tôn giáo cũ để thành lập một tôn giáo mới mà thôi.

Và rốt cuộc ta thấy xã hội không thể không có những hệ thống tín ngưỡng được xem như yếu tố tạo thành xã hội tính. Yếu tố tôn giáo trong thế thăng bằng của chính trị là một cái gì không thể phủ nhận được.

Nhưng có hai câu hỏi được đặt ra. Câu hỏi thứ nhất liên hệ đến sự phân biệt ranh giới giữa tôn giáo và chính trị, câu hỏi thứ hai liên hệ đến bản chất của tôn giáo và ảnh hưởng tôn giáo trong sinh hoạt xã hội và trong những xung đột chủ nghĩa.

Ta hãy đặt câu hỏi thứ nhất. Nếu tôn giáo là chất liệu của xã hội tính, và nếu chính trị là quyền bính sử dụng xã hội tính ấy để thực hiện những điều mơ ước, thì đâu là ranh giới và quyền hạn giữa giáo quyền và chính quyền ? Giáo quyền và chính quyền có phải là hai thứ quyền hạn hoàn toàn không lệ thuộc gì nhau không? Theo chúng tôi tưởng, mọi sự giản lược hóa vấn đề đều không đem đến cho ta một cái nhìn xác thực. Mọi hiện tượng trong xã hội đều có liên hệ với nhau một cách rất mật thiết và không bao giờ có những ranh giới tuyệt đối giữa hiện tượng này với hiện tượng kia, đúng như nguyên lý vô ngã đã cho ta thấy. Vì vậy trong khi xét vấn đề chúng ta phải cố gắng tránh lề lối cắt xén, bằng trí óc ta, cái thực tại phiền tạp kia ra thành nhiều miếng nhỏ rời rạc.

Đối tượng của tôn giáo là con người mà đối tượng của chính trị cũng là con người, và dù con người tinh thần hay con người vật chất cũng là con người, cũng là những khía cạnh liên hệ nhau của con người. Như thế làm sao tôn giáo và chính trị không có những tương quan cho được. Điều ta có thể nói là trong khi chính trị dùng những quyền hành quân sự thì tôn giáo dùng những quyền hành tinh thần và tình cảm; trong khi chính trị dùng những phương tiện luật pháp thì tôn giáo dùng những phương tiện đạo đức.

Một bên là pháp trị và một bên là đức trị. Nếu có sự áp dụng đức trị thêm vào trong mặt pháp trị tức là có sự sử dụng tinh thần tôn giáo đạo đức trong phạm vi chính trị. Trong phạm vi tôn giáo nhất là trong những tôn giáo mà giáo quyền quyết định mọi sự áp dụng pháp trị. Và như thế phương pháp của chính trị được áp dụng ít nhiều trong phạm vi tôn giáo. Đáng lý ra, theo ước muốn của con người, tôn giáo chỉ được thuần túy dựng trên đức trị. Ta cũng nên hiểu tôn giáo như những lực lượng văn hóa mà trung tâm là một ý thức hệ. Tôn giáo cũng như chính trị, nhắm đến đối tượng con người và đến sự thực hiện thế giới lý tưởng của con người, hoặc ngay trên trái đất này, hoặc ở một thiên đường ngoài trái đất này. Nhưng dù trên trái đất này hay ở một thiên đường ngoài trái đất này thì cũng vẫn là những con người này, những con người mà ta gặp gỡ và cùng chung sống hôm nay. Cũng những con người ấy chịu ảnh hưởng, chịu sự hướng dẫn, chịu sự chi phối và chịu những mệnh lệnh của tôn giáo và của chính trị - dù là do chính con người tạo ra. Và như thế phải có mâu thuẫn, bởi vì có hơn một đường lối, hơn một mênh lệnh. Từ xưa đến nay đã có những chống báng và những hợp tác giữa các nhà văn hóa (ta tạm gói chữ tôn giáo trong chữ văn hóa) và các nhà chính trị. Các nhà chính trị luôn luôn đi tìm những nhà văn hóa để lợi dụng (xin nói trắng - với lại chữ lợi dụng không có nghĩa gì xấu), bởi vì chính trị nào cũng phải có quần chúng mà tư trào văn hóa nào lôi kéo được quần chúng thì có thể bảo đảm cho sự đứng vững của một thế chính trị. Ta hãy lấy ít ví dụ ở xã hội nông nghiệp Trung Hoa ngày xưa. Một nền văn hóa chủ trương đề cao chữ Trung cố nhiên được các ông vua ưa thích. Chữ Trung đã mang ý nghĩa trung với một ông vua, trung với một triều đại, một dòng họ. Và lệnh vua phải được triệt để tuân theo, dù đó là lệnh ban cho mình cái chết: "quân sử thần tử, thần bất tử bất trung." Giáo lý Trung quân khi đã được nhiều người theo và sùng kính như một nguyên lý tôn giáo (đó là công trình của nhà văn hóa cũng như nhà tôn giáo) có thể bồi đắp và giữ gìn một cách rất hữu hiệu cho sự tồn tại của một ông vua, một chính quyền. Thường thường một ông vua, vì muốn tỏ cho người sĩ phu biết là mình phục thiện, mới miễn cưỡng bằng lòng nguyên tắc: "dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh," kỳ thực rất muốn người ta xem mình như là cha mẹ. Không những thế, còn bằng lòng tự nhận mình là con trời nữa, như sự sắp xếp của nhà văn hóa và tôn giáo. Thờ vua trở thành một tôn giáo, bởi vì vua không những là nhà chính trị mà còn là thiên tử, người thuận thiên hành đạo. Và giáo quyền hợp lực với quân quyền. Cả hai bên đều có lợi, một bên là chính quyền được vững chãi, một bên là giáo quyền và giáo lý được nâng đỡ, tôn giáo, phát triển ảnh hưởng và thế lực trong quần chúng. Nếu nhà chính trị đi tìm nhà văn hóa, thì nhà văn hóa cũng đi tìm nhà chính trị. Tuy nhiên ta phải ghi nhận điều này: thường thường nhà chính trị, vì tin tưởng quá nhiều ở khả năng của quyền bính pháp trị, nên có thể tìm đến với bất cứ một tư trào văn hóa nào tạo được xã hội tính mạnh nhất trong xã hội mình, trong khi đó nhà văn hóa (tôi nói nhà văn hóa chân chính) thường chỉ nhìn vào khả năng thực hiện đường lối văn hóa mình nơi nhà chính trị để mà chọn mặt gửi vàng. Lý do là các nhà văn hóa biết rằng nếu có nhà chính trị giỏi chịu đi theo họ thì họ sẽ có thêm một phương tiện sắc bén nữa để thực hiện nền văn hóa ấy, ngoài những phương tiện văn hóa của chính họ. Những nhà văn mà cứ xu phụ vào bất cứ một chính quyền nào thì đều là những nhà văn hóa nô dịch không có lý tưởng. Những nhà văn hóa có lý tưởng thì luôn luôn hướng đến một tương lai đẹp hơn hiện tại, và có ý dùng lực lượng văn hóa của họ để buộc nhà chính trị thực hiện ước muốn chân chính và tiến bộ của lý tưởng kia. Văn hóa nào cũng muốn là văn hóa dân tộc, tôn giáo nào cũng muốn là quốc giáo. Quốc giáo không phải như một chức vị, mà là một hiện thực, để mà thực hiện lý tưởng. Trong xã hội ta ít ai chịu đựng được ý niệm một quốc giáo, nhưng mà sự thực của tâm trạng các nhà tôn giáo thì chưa chắc.

Cố nhiên là nhà chính trị "sợ" nhà văn hóa trong trường hợp nhà văn hóa không ủng hộ cho mình và còn muốn cho mình làm những điều mà nếu mình làm thì mình phải đổ. (Như trong trường hợp nhà chính trị độc tài: độc tài là phương tiện để đứng vững lâu thêm). Và vì vậy có hiện tượng đàn áp những tư trào văn hóa nào có cơ hội kéo được đa số quần chúng theo và đang là một sự đe dọa cho sự tồn tại của chính quyền. Chỉ có những nhà văn hóa nô dịch mới được bảo đảm trong một chính thể độc tài, còn những nhà văn hóa chống đối bao giờ cũng bị đe dọa. Khi một tư trào văn hóa lớn mạnh, nhà chính trị sẽ không dám đe dọa nữa và bắt buộc phải vuốt ve, hoặc thoa dịu, hoặc nâng chiều. Sự nâng chiều đứng đắn nhất là thực hiện sốt sắng những lý tưởng văn hóa kia dù sự thực hiện đó đòi hỏi can đảm, nhượng bộ và hy sinh. Trong trường hợp một tư trào văn hóa nào đó mà được hướng dẫn bởi những động cơ quyền thế và danh lợi, và nếu tư trào đó lớn mạnh thì đó là một điều đại bất hạnh cho xã hội. Chính quyền sẽ phải xu phụ theo đó, nếu muốn đứng vững; và xu phụ theo tức là phụng sự cho bóng tối và cho đau khổ của xã hội. Nhà văn hóa mà đi lầm đường thì còn tàn hại hơn nhà chính trị nhiều. Trong khi nhà chính trị đi tìm hậu thuẫn quần chúng nơi nhà văn hóa thì nhà văn hóa, ngoài công việc phát huy hướng dẫn và thực hiện bằng những phương tiện của mình, cũng để mắt tới những nhà chính trị mà họ nhắm có khả năng thực hiện văn hóa họ. Việc đi chu du của Khổng Tử qua các nước chẳng hạn là để tìm những chính quyền có thiện chí và khả năng thực hiện đường lối văn hóa Khổng Tử. Ít có ông vua nào chịu là vì văn hóa đó chưa phải là một thực thể mà mới là một dự án. Nếu đức Khổng Tử trước tiên chịu khó mở trường dạy học, chịu khó phổ biến đường lối, làm cho ý thức hệ mình trở thành xã hội tính của một xứ sở thì không cần chu du tìm kiếm cũng sẽ có nhà chính trị tìm đến. Nhưng nhà làm văn hóa không hẳn là để cho nhà chính trị tìm đến: làm văn hóa là cố thể hiện một ý thức hệ trong sự sống của con người, bằng những phương tiện sẵn có trong phạm vi văn hóa. Và chừng đó cũng đã là đáng kể lắm rồi. Khi văn hóa đã trở thành sự soi sáng cho ước vọng và ý chí của quần chúng thì tự khắc bằng cách này hay cách khác nó được thực hiện. Chất liệu văn hóa của một lực lượng xã hội bao giờ cũng có ảnh hưởng trên sinh hoạt mọi mặt của xã hội ấy. Nhà chính trị bao giờ cũng cần đến nhà văn hóa và do đó không thể nào có sự phân biệt rõ rệt về phương diện nội dung. Chính trị muốn văn hóa phục vụ mình và văn hóa cũng muốn chính trị phục vụ mình: đó là một sự thực lịch sử. Tôn giáo, dưới con mắt của nhà xã hội học, nằm gọn trong phạm vi văn hóa, và vì vậy cũng nằm trong sự thực đó. Nhà thần học có thể không đồng ý về điểm này.

Nếu có ranh giới giữa văn hóa và chính trị thì ranh giới đó chính là sự phân biệt những khí cụ, những phương tiện. Nhà chính trị có những khí cụ và phương tiện khác nhà văn hóa; sự lạm dụng khí cụ của nhau khiến cho hai bên dính vào nhau và văn hóa sẽ mất đặc tính văn hóa.

Rõ ràng nhất là trong trường hợp tôn giáo: tôn giáo xen vào chính trị có nghĩa là tôn giáo muốn dùng đến những phương tiện chính trị hoặc để thực hiện lý tưởng mình hoặc để phát triển uy quyền và thế lực mình trong xã hội. Có thể có tôn giáo quan niệm rằng điều đó là điều tự nhiên, nhưng cũng có những tôn giáo khác không thể chấp nhận như vậy. Ví dụ trong trường hợp đạo Phật. Đạo Phật có thể nhận sự bảo trợ của chính quyền trong trường hợp nhà chính trị thấy lý tưởng đạo Phật thích hợp với đường lối họ (như trường hợp vua Asoka ở Ấn và các vua triều Lý Việt Nam) nhưng đạo Phật không bao giờ muốn nắm lấy quyền bính hoặc có ý thao túng chính quyền. Tuy thế có những tôn giáo tự nhận quyền hành chỉ đạo tinh thần cho cả chính trị và như thế, ngoài phương diện đức trị, những tôn giáo ấy, qua trung gian của chính quyền, dùng cả phương tiện pháp trị nữa. Người lãnh đạo tôn giáo trở thành vua của các ông vua, tổng thống của các ông tổng thống. Ở những xã hội chỉ có một tôn giáo đáng kể thì điều này có thể thực hiện, nhưng ở những xã hội có nhiều tôn giáo, điều này là một điều nguy hiểm.

Tôn giáo đã đành phải có những đóng góp trong xã hội - đóng góp những gì rất quan trọng như là tạo nên xã hội tính chẳng hạn - nhưng chỉ có thể đóng góp với tư cách tôn giáo. Nếu không, tôn giáo sẽ không còn là tôn giáo nữa. Nói rằng hàm số tôn giáo rất quan trọng trong bài toán chính trị không có nghĩa là nói rằng tôn giáo có thể đóng vai trò chính trị. Nếu tôn giáo không còn là hàm số tôn giáo nữa mà lại là một thứ hàm số khác.

Bây giờ ta hãy thử xét đến câu nói thứ hai, câu hỏi có liên hệ đến vấn đề bản chất và ảnh hưởng của tôn giáo trong mọi sinh hoạt xã hội, trong đó có sinh hoạt chính trị. Cố nhiên ai cũng thấy rằng mọi sinh hoạt xã hội chịu ảnh hưởng ít nhiều của tôn giáo, nghĩa là chịu ảnh hưởng cái chất liệu đã tạo nên xã hội tính của con người trong xã hội đó. Tuy nhiên không phải các tôn giáo đều có công như nhau. Xã hội chỉ có thể tiến bộ nếu nhận thức về tôn giáo có tiến bộ. Những nhận thức cố chấp về tôn giáo đã kềm hãm sự tiến bộ của nhân loại nhiều lắm, lịch sử văn hóa cho ta thấy điều đó. Nhưng tiến bộ của xã hội, trong đó có tiến bộ khoa học, giúp cho sự tiến bộ về nhận thức tôn giáo và ngược lại những tiến bộ về nhận thức tôn giáo cũng làm điều kiện cho xã hội tiến bộ. Vậy nên cố chấp vào những giáo điều đã trở thành ngây thơ trước sự tiến bộ của khoa học tức là cản trở bước đi của khoa học và cũng tức là quá tin ở sự lý giải của mình đối với nội dung của tôn giáo mình đang theo.

Tuy nhiên thái độ không cởi mở của người tín đồ không hẳn là kết quả của một lề lối nhận thức đã đóng khung người tín đồ ấy lại, mà còn là kết quả của cái bản chất tôn giáo mà giáo điều căn bản được xây dựng trên những nhận thức có tính cách thần thoại và không thể đứng vững hoài được trước sự tiến bộ của nhận thức khoa học.

Đành rằng tín ngưỡng tính trong con người là một cái gì không thể tiêu diệt được và đành rằng đức tin tôn giáo quả thực cần thiết cho sự kết hợp của các lực lượng xã hội, nhưng có những tôn giáo (và có những thái độ nhận thức về tôn giáo) có thể ngăn cản và làm chậm lại sự tiến hóa của tư tưởng, khoa học, xã hội, và gây nên tâm trạng cuồng tín rất nguy hại cho nhân loại, trong khi đó có những tôn giáo có bản chất thích hợp với sự phát triển của tinh thần tự do, dân chủ và khuyến khích mọi tiến bộ của nhân loại về phương diện sinh hoạt xã hội cũng như về phương diện tâm linh, tình cảm.

Tinh thần vô tư của nhà khoa học và tâm trạng thao thức đi tìm chân lý một cách khách quan của nhà triết học (chứ không phải là nhà thần học) cần phải được chiếu rọi vào tôn giáo để giúp cho nhận thức về tôn giáo được sáng tỏ và tiến bộ. Một khi con người có được nhận thức tỉnh táo về tôn giáo (đức tin nơi tôn giáo không cần và không nên là một đức tin say mê vô điều kiện) thì con người sẽ có những khám phá mới lạ về tôn giáo và tránh được cho nhau những va chạm không cần thiết - những va chạm bao giờ cũng gây oán thù chết chóc và khổ đau cho nhân loại./.

Nguồn: thuvienhoasen.org




Viết Cho Con: 17- Chính Trị Và Tôn Giáo.

Nguyên Thảo

Đây là hai vấn đề rất tế nhị trong cuộc đời nầy. Đúng ra, Ba chưa đủ khả năng và trình độ để viết cho con hiểu. Nhưng vì tính cách phức tạp của nó, nên Ba tận dụng những kiến thức của mình gom góp lại nhằm giúp con một số vốn căn bản nào đó để làm tư liệu cho những nhận định về sau nầy.

Con ạ! Nếu con người có thể xác và tinh thần, thì sự mưu cầu ấm no, an ổn, hạnh phúc, thoải mái cho cả hai đều là cần thiết. Mưu cầu thân xác được an ổn, đời sống được đầy đủ, cùng đem lại sự giàu có, của cải vật chất phong phú cho con người, xã hội là cách thức của Chính trị. Còn đem lại an lạc cho tâm hồn, làm dịu bớt sự đau khổ, xây dựng niềm tin là nhiệm vụ của Tôn giáo. Ba đề cập vấn đề liên quan đến thân xác trước: Chính trị, rồi sau đó sẽ đi vào Tôn giáo.

Con yêu dấu,

Nói đến chính trị, chắc con sẽ nghĩ hay liên tưởng đến hội đoàn nầy, hội đoàn kia; mặt trận nầy, mặt trận nọ; chế độ nầy, chế độ kia vân..vân... Đó là những “hình thức tổ chức” để thể hiện những nét sinh hoạt của chính trị. Chứ thực ra chính trị chỉ là phương cách chính đáng, ngay thẳng, đúng đắn để cai trị, điều khiển một tổ chức, một địa phương hay một nước nhằm mưu cầu, đáp ứng về vật chất cho con người sao cho được phong phú, đầy đủ để con người, người dân được thoải mái về thể xác rồi tâm hồn cũng được an lạc hơn.

Ở bài "Học là con đường ngắn nhất tiến tới tương lai xán lạn" Ba đã phát họa tiến trình của con người trong việc thành hình xã hội từ nhóm, đàn, bộ tộc đến dân tộc và quốc gia. Thì cũng vậy, dù lớn nhỏ các tổ chức đều cần có phương pháp, cách thức để vận hành, sinh hoạt, làm việc kể cả kỷ luật nhằm giành lấy, đem lại kết quả cao nhất cho tổ chức hay những thành viên của tổ chức ấy. Nếu một tổ chức không có người lãnh đạo, không có cách thức sinh hoạt, không có nội quy, không có kỷ luật thì chỉ là một khối hỗn loạn và dễ dàng đưa đến sự tan rã. Và nếu không có sự thay đổi người lãnh đạo khi cần thiết, dễ dàng đưa đến độc tài dù đó là sự lãnh đạo của một người hay của một nhóm người. Điều ấy chỉ không xảy ra ở loài vật: Loài mối, loài kiến và loài ong. Các giống vật nầy, tạo hóa đã sinh ra nó, ban bố cho chúng một tổ chức chặt chẽ có vai trò thứ lớp hẳn hoi. Ba không hiểu chúng không tranh giành, không độc tài, không gây rối loạn là vì do bản năng của chúng, hay là vì lý do chúng không có trí tuệ hoặc lòng tham.

Sự hình thành đường lối chính trị khởi nguồn từ những nhu cầu cần có người chỉ huy, điều khiển của đám đông người. Rồi tiếp theo là các vấn đề khác: Bảo vệ giềng mối của tổ chức, phương hướng hoạt động sao cho có hiệu quả. Chính vì vậy mà hiện nay ta có nhiều cách khác nhau. Ví dụ có tổ chức thì bầu người có công tài giỏi lên lãnh đạo, rồi ngôi vị đó cha truyền con nối như chế độ Quân chủ. Còn có tổ chức bầu người giỏi lãnh đạo trong thời gian bao lâu sẽ bầu người khác thay thế: Đó là hình thức dân chủ, cộng hòa phát sinh từ xã hội Hi Lạp xa xưa. Sau nầy ta còn có Quốc Hội Chế, Tổng Thống Chế và Quân Chủ Lập Hiến (vừa có vua, vừa có quốc hội).

Nhưng con ạ! Ba lấy làm lạ là trong quá trình thành hình chế độ hay sự cai trị đều có sự hiện diện của những nhà tư tưởng hoặc triết gia. Nếu hoàn cảnh nhiễu nhương thời Xuân Thu Chiến Quốc của Trung Hoa đã khiến cho Lão Tử suy tư, ngộ đạo bèn thốt ra câu "Thiên hạ vô sự" rồi bỏ vào núi đi tu và mất luôn. Còn Khổng Tử thì nhập vào cuộc đời viết sách, san định lại các tài liệu xưa cũ để viết thành các bộ Kinh trong Ngũ Kinh (Thi, Thư, Dịch, Lễ Ký, Xuân Thu), và các sách nầy cùng với các sách trong Tứ Thư gồm có Đại Học, Trung Dung, Luận Ngữ và Mạnh Tử giúp Nho gia lấy đó làm căn bản để sống và tham chính; cũng như là nền tảng làm giềng mối củng cố cho chế độ Quân chủ, nhằm tạo sự ổn định xã hội. Còn phương thức cai trị thì có các cách: Pháp trị (cai trị bằng Pháp chế), Đức trị (trên căn bản tình thương, đạo đức), và Bá trị (có thể là trấn áp, quyền lực, miễn sao đạt được kết quả). Nói chung lại, Chính trị là một phương sách cai trị, điều khiển, vận hành của một tổ chức, một quốc gia nhằm đem lại sự ấm no, cường thịnh, hạnh phúc, thoải mái, an lạc cho mọi người. Nếu khi nào con thấy ở đâu đó có sự đấu tranh thì nơi đó đang có sự áp bức đúng như câu nói của Karl Marx: "Nơi nào có áp bức là nơi đó có đấu tranh".

Ba hi vọng với sự giúp đỡ nhỏ nhoi của Ba, con cũng có thể nhận định được chút nào về khía cạnh chính trị và nếu con thích tìm hiểu thêm thì Ba nghĩ rằng điều ấy không khó với con đâu vì sách vở đã viết rất nhiều. Và bây giờ Ba sẽ nói đến phần thứ hai: là Tôn giáo.

Con yêu dấu,

Tôn giáo không phải là vấn đề đơn giản, vì đó là vấn đề Tâm linh: Vấn đề sâu kín trong con người. Tâm linh không có chỗ tựa nhất định, nó bàng bạc mông lung trong con, đôi khi ngoài thân xác con nữa. Con chỉ ý thức được nó thôi, con không thể nắm bắt hay soi rọi xem nó đang ở đâu. Trong Triết học người ta chia tri thức (sự nhận biết) của con người thành ba phần: Ý thức, Tiềm thức và Vô thức. Nếu phần ý thức là phần mà người ta có thể nhận biết một cách tương đối rõ ràng về những việc làm hoặc những suy nghĩ của mình; Thì Tiềm thức chỉ là vùng mà người ta biết mơ hồ, không rõ và không biết ở đâu, đôi khi sự nhớ của nó lại hiện ra trong giấc mơ. Và vùng thứ ba ta không thể cảm nhận, ý thức được gì hết, là vùng của siêu hình gọi là vô ý thức hay vô thức. Diễn tả một cách nôm na để cho con dễ hiểu, và con hãy tưởng tượng "Tri thức" ấy giống như một hồ bơi mà người ta phân chia thành ba phần: Phần trên, phần giữa và phần đáy. Những con người tầm thường như chúng ta chỉ "lội" được ở trên mặt hồ mà thôi. Những nhà khoa học, bác học, tư tưởng, triết gia họ lặn được sâu vào đến phần giữa của hồ cho nên họ khám phá được nhiều điều mà người thường không thể làm được. Tiềm thức của họ hoạt động mạnh hơn chúng ta và họ khám phá sự kiện, sự vật bằng tiềm thức đó. Nhưng họ vẫn chưa "lặn" xuống được phần đáy của hồ. Còn một nhà tôn giáo “ngộ được đạo” họ lặn rất sâu vào vùng vô thức: "Phần đáy của hồ", lặn càng sâu thì sự giảng giải của họ càng rõ ràng, sâu sắc hơn về mọi sự kiện. Điều ấy tùy theo cơ duyên và cái quá khứ tiền kiếp của họ.

Nhưng một điều kiện cần thiết để một nhà "Tôn giáo" có thể đi sâu vào tầng "vô thức, siêu hình" là "Tĩnh lặng". Yên lặng để "khám phá" mà thế gian gọi là "Thiền định". Chính vì vậy mà các nhà tôn giáo cần có thời gian để định tâm hay thiền định. Làm cho tâm yên giống như ta làm cho mặt hồ nước thật yên tĩnh; mặt hồ yên, nước lại trong thì tất nhiên ta sẽ nhìn thấy được tới đáy hồ. Còn mặt hồ không yên giống như tâm ta luôn khuấy động (tâm viên, ý mã) thì ta không thể thấy được đáy hồ; hay rõ ra ta không thể nhìn được vào được vô thức hoặc siêu hình. Do đó Sít-Đạt-Ta phải mất 49 ngày, Mahomed tốn một thời gian ở núi Hira, còn Jesus với 40 ngày đêm nơi đồng vắng. Sự biết đạo cũng có thể đến từ ngoài vào như là một hiện tượng nhập thể, nhưng thường thì từ trong ra: Từ thân thể, tâm linh câu thông với vũ trụ, siêu hình để hiểu pháp và nói pháp. Vậy thì những vị ngộ đạo đã đi đến cùng một nơi, một gốc; nhưng tại sao có các tôn giáo khác nhau? Vì do nơi phong tục, tập quán, ngôn ngữ, địa phương khác nhau và cách cứu độ khác nhau. Lại nữa, trong các tôn giáo cũng có sự tranh giành “ảnh hưởng, bêu xấu”, đó là do những người theo đạo rất ư là trần tục đó thôi! Như bài trước Ba đã nói đến cái Ta, cái Ngã to tát là nguyên nhân lớn của nhiều vấn đề "thảm hại" trên thế gian nầy. Đó là Ba chưa nói đến những người “Tĩnh Lặng” nhưng trong sự “Tĩnh Lặng” đó đã có mầm mống của “Cái Ta”, “Cái Ngã” to lớn chi phối cho nên họ mới tự xưng “Ta là Đấng...”, “Đạo của Ta...” v..v... Đó là hiện tượng “Tẩu Hỏa Nhập Ma” mà Đức Phật đã có đề cập đến, tức là “Đạo ấy” đã đi vào con đường Ma. Vì vậy, Đức Phật mới chứng minh bằng sự “Vô Ngã”, chỉ với vô ngã chúng sinh mới diệt được tâm “phân biệt và vọng tưởng” (tức là Vô Minh) để trở về với “Chơn Tâm” hòa mình cùng với đại thể mà thôi! Hoặc có những tư tưởng tham vọng biến truyền thuyết, thần thoại để thành tôn giáo; hay những môn phái tà đạo, bán tà đạo và trá hình mà họ đã thành hình những tôn giáo giống như là để “Cứu rỗi con người”. Họ không phải vì "cứu rỗi" loài người, không phải vì "phổ độ chúng sinh" mà có thể vì danh vọng, vì lợi lộc, đôi khi vì đã bị sai đường hay đúng hơn là bị quỷ ám, bị tẩu hỏa nhập ma hoặc là Satan hay quỷ vương đang đùa giỡn với họ mà nên.

Con yêu dấu,

Ba chỉ viết đại khái, chứ về phương diện chính trị, tôn giáo đã có biết bao nhiêu là sách báo, bài viết đề cập đến từ xưa tới nay; nhưng vẫn hãy còn chưa đủ và các nhà chuyên môn, nghiên cứu tiếp tục sáng tác, đào sâu thì chuyện Ba nói với con chẳng thấm vào đâu. Ba chỉ muốn giúp con hiểu được chút ít của vấn đề nhằm hổ trợ con "thêm tí gia vị" vào món ăn của cuộc đời, thế thôi!

Nguồn: http://www.thuvienhoasen.org




NGƯỜI TÍN HỮU CHÚA KI TÔ TRONG CHÍNH TRỊ

( Nota doctrinalis: Ghi chú tín lý về người tín hữu Chúa Ki Tô trong chính trị )
NGUYỄN HỌC TẬP

Ngày 16 tháng giêng 2003, trên 5 năm trươc đây, khi chúng tôi viết bài nầy, Thánh Bộ Đức Tin vừa ban hành một Văn Bản “Ghi Chú Tín Lý về những vấn đề liên quan đến việc dấn thân và cách cư xử của người công giáo trong chính trị ” L'Osservatore Romano, 17.1.2003).
Trước khi đề cập đến nội dung của Văn Bản trên, có lẽ chúng ta nên xác định từ ngữ và thời điểm Văn Bản được công bố để đánh giá một cách chính đáng hơn nội dung quan trọng mà Thánh Bộ Đức Tin muốn gởi đến mọi người công giáo trên thế giới.
Trước hết Văn Bản được công bố dưới hình thức “ Ghi Chú Tín Lý ” ( Nota doctrinalis).
Với hình thức vừa kể, “ Nota doctrinalis”, Thánh Bộ Tín Lý xác định tính cách quan trọng của nội dung được chứa trong Văn Bản.
Đây là những điều Giáo Hội muốn xác nhận có liên quan đến Tín Lý. Giáo Hội có ý tuyên bố dùng quyền giáo huấn của mình đối với các tín hữu Chúa Ki Tô, nhút là đối với người tín hữu giáo dân, là những người có phận vụ không ai có thể thay thế trong môi trường chính trị-xã hội, chớ không phải là những vấn đề đưa ra để hỏi ý kiến hay bàn cải (questio disputata).
Dưới dạng thức “ Ghi Chú Tín Lý ” như vừa nói, Giáo Hội công bố Văn Bản hàm chứa ý nghĩa có tính cách bắt buộc và các tín hữu phải lưu tâm, vì là những vấn đề liên quan đến Đức Tin.
Về thời gian tính, Ghi Chú Tín Lý được công bố ngày 16.01.2003, ngày lễ Chúa Giêsu là Vua Vũ Trụ
Có lẽ không mấy người trong chúng ta biết là ngày lễ long trọng mừng Chúa Giêsu là Vua Vũ Trụ, được Đức Giáo Hoàng Pio XI thiết lập năm 1925 với chủ ý tương đối hóa hai biến cố đánh dấu đặc biệt tình trạng chính trị lúc đó:
cuộc cách mạng Cộng Sản ở Nga 1919 được người Cộng Sản rầm rộ tuyên bố là “ vĩ đại ”
- và cuộc chiến thắng khải hoàn tràn vào Roma ( Marcia su Roma) của phe Phát Xít Ý, do Benito Mussolini lãnh đạo.
Hai ý thức hệ độc tài và phi dân chủ đó được đặt dưới chân Chúa Giêsu Vua, Vị lãnh đạo và Vua duy nhất của cả vũ trụ.
Chọn ngày 16.01, lễ Chúa Giêsu Vua, Giáo Hội có ý nhắc lại cho chúng ta rằng mọi quyền năng đều phát xuất từ Thiên Chúa:

- “ Omnis potestas a Deo ”.

Về nội dung, Văn Bản Ghi Chú Tín Lý được gởi đến những người tín hữu Chúa Ki Tô, người tín hữu giáo dân, đang dấn thân trong chính trị, không phải như là một bản văn nói lên mối tương quan giữa luân lý và chính trị, cho bằng có mục đích định hướng các tín hữu Chúa Ki Tô nói chung, đứng trước một vài vấn đề luân lý trong cuộc sống dân chủ:

- “ Xã hội văn minh của chúng ta hiện nay đang ở trong một chu kỳ văn hóa phức tạp, đánh dấu một thời đại vừa kết thúc và trạng thái bấp bênh của một thời đại mới vừa ló dạng ở chân trời. Nhiều cuộc chinh phục quan trọng mà chúng ta đang chứng kiến thúc đẩy con người bước đi trên con đường tích cực mà nhân loại đã thực hiện được những bước tiến hóa và đạt được những điều kiện sống xứng đáng cho con người hơn. Sự tăng trưởng ý thức trách nhiệm đối với các Quốc Gia chưa được phát triển là một dấu hiệu quan trọng, điều đó chứng tỏ rằng chúng ta càng ngày càng có ý thức về công ích. Nhưng cùng chung với những bước tiến vừa kể, chúng ta không thể im lặng trước những mối nguy mà một vài khuynh hướng văn hóa đang muốn quy hướng các nền lập pháp và từ đó quy hướng cách cư xử của những thế hệ tương lai ” ( đoạn 2).

Giáo Hội không chối những tiến bộ mà nhân loại đã đạt được nhờ vào thể chế dân chủ càng ngày càng được bành trướng và lớn mạnh khắp nơi, nhưng đồng thời Giáo Hội nhận thấy rằng mình không thể nhắm mắt trước những khuynh hướng văn hóa đang đe dọa, lợi dụng những thành quả đã đạt được, để làm băng hoại thể chế nhân bản và dân chủ trong tương lai.
Từ đó đưa đến vấn đề quan niệm phải có, quan niệm phù hợp với đức tin của người tín hữu Chúa Ki Tô, nhứt là người tín hữu giáo dân, trong chính trị.
Một đàng, người tín hữu
- không thể không tham dự chính trị, vì chính trị - xã hội là môi trường đặc thù, mà ơn gọi dành riêng cho cuộc sống của người tín hữu giáo dân, kêu gọi phải thực hiện, để tổ chức cuộc sống cho mình và thực thi đức bác ái đối với anh em mình ( Gaudium et Spes, n. 75, in EV I / 1578).
Mình không dấn thân, chung sức với những người thành tâm thiện chí khác để thực hiện, có được đường lối chính trị Quốc Gia tổ chức cuộc sống tốt đẹp cho mình và cho đồng bào mình, kẻ khác lãnh đạo, hành xử, thực hiện sai trái lên đầu lên cổ mình và anh em đồng bào mình, thì rán chịu.
- đàng khác họ phải đối phó với những khuynh hướng văn hóa mơ hồ tối nghĩa, khiến những nhà làm luật có những chọn lựa cần phải đặt vấn đề hay khiến cho họ có những lựa chọn không thể chấp nhận được về phương diện luân lý.
Câu hỏi được đặt ra đối với người tín hữu Chúa Ki Tô trong chính trị là làm sao có thể trung thành với lương tâm của mình hay với những giá trị bất khả nhượng?
Do đó Văn Bản Ghi Chú Tín Lý được tuyên bố để làm sáng tỏ vấn đề.
Nội dung của Bản Ghi Chú Tín Lý được trình bày dưới bốn đề tài:
- tạo một tâm hồn luân lý cho chính trị,
- một vài định hướng trong môi trường dân chủ đa nguyên,
- bản tính Ki Tô giáo và gia nhập đảng phái chính trị,
- đặc tính trần thế của chính trị.

1 - Tạo một linh hồn luân lý cho thể chế dân chủ.
Bổn phận đầu tiên của người tín hữu Chúa Ki Tô là tạo một linh hồn luân lý cho thể chế dân chủ, hàn gắn sự rạn nứt nguy hiểm giữa luân lý và chính trị.
Thời kỳ vàng son của ý thức hệ không tưởng xã hội chủ nghĩa thực hữu ( socialismus realis) đã chấm dứt năm 1991, ít nhứt là đối với đại đa số các Quốc Gia trên thế giới, ý thức hệ duy nhứt hiện tại là thể chế dân chủ đa nguyên.
Nhưng với tư cách độc tôn hiện tại, thể chế dân chủ đa nguyên đang có khuynh hướng đồng nhất hóa các nền văn hóa khác, xoá bỏ đi không ít gia tài phong phú các giá trị về con người.
Nhược điểm của dân chủ tự do là pha lẩn tự do với tương đối hóa luân lý :
- mọi khuynh hướng chính trị, văn hóa, luân lý, tôn giáo đều được coi là có giá trị như nhau, chính đáng (légittime) như nhau,
- trong khi đó thì tự do là quyền có thể chọn lựa và hành động bất cứ những gì mình thích, chỉ có một giới hạn duy nhứt là tôn trọng tự do của người khác.
Bản Ghi Chú Tín Lý đứng tách rời quan niệm dân chủ nhân nhượng và cá nhân chủ nghĩa vừa kể, quả quyết rằng:

- “Tự do chính trị không phải, cũng như không thể được đặt trên nền tảng quan niệm tương đối chủ nghĩa, cho rằng mọi quan niệm về con người đều có giá trị chân lý như nhau và giá trị như nhau ” (đoạn 3).

Kinh nghiệm cho thấy rằng lý thuyết vừa kể thu hẹp đời sống nhân bản và dân chủ thành thực dụng hoàn toàn.
Các cơ chế Quốc Gia không còn hành xử một cách trong sáng để phục vụ công ích và trở thành dụng cụ của quyền lực và phe nhóm, làm mất đi tinh thần Quốc Gia đối với nguời lãnh đạo cũng như đối với dân chúng.
Từ những ý nghĩ vừa kể, chúng ta có thể kế luận rằng vấn đề dân chủ hiện tại là vấn đề luân lý.
Ngoài ra lý do phải tạo cho chính trị một linh hồn luân lý là do những đòi hỏi khẩn thiết trước những kết quả mà khoa học và kỹ thuật đã và đang đạt được:

- “ Những chinh phục mà khoa học đạt được, cho phép con người tiến đến được những mục đích làm cho lương tâm phải giao động và đòi hỏi phải tìm ra những giải đáp để đáp ứng một cách trung thực và chắc chắn những nguyên tắc luân lý. Nhưng trên thực tế, chúng ta đang chứng kiến nhiều dự án pháp luật, bất kể đến sự sống còn và tương lai của nhiều dân tộc trong tiến trình phát triển văn hóa và nếp sống của mình, đang có ý định phá vở quyền bất khả xâm phạm của con người ” ( đoạn 4).

Nói một cách nôm na, bản Ghi Chú Tín Lý lưu ý người tín hữu về thể chế dân chủ tự do hiện tại, nhứt là tự do quá trớn của một vài trào lưu văn hóa không còn đếm xỉa đến điạ vị tối thượng của con người và đang đào thải tận gốc rể đời sống dân chủ, bằng cách đánh mất đi giá trị của những cứ điểm định chuẩn.
Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolồ II, mười năm trước đây cũng đã đề cập đến những nguy hiểm vừa kể:

-“Ở nhiều quốc gia, sau sự sụp đổ của những ý thức hệ trói buộc chính trị vào quan niệm độc tài về thế giới - chủ thuyết Mát Xít là một trong những ý thức hệ đó - hiện nay một mối nguy hiểm khác không kém phần trầm trọng đang đe dọa, do quan niệm chối bỏ những quyền căn bản của phẩm giá con người . Đó là mối nguy cơ cấu kết giữa dân chủ và tương đối hóa luân lý. Mối nguy vừa kể xoá bỏ đi mọi cứ điểm định chuẩn luân lý và, tận cùng hơn nữa, mọi cứ điểm để có thể định chuẩn đâu là sự thật ” ( Thông Điệp Veritatis Splendor (1993), n. 101).

Với thái độ tương đối luân lý như vừa kể, mọi chuyện thoái hóa hủ bại là điều có thể xãy ra được:

- “ Nếu không có chân lý cuối cùng, để hướng dẫn và định hướng chính trị, mọi tư tưởng và mọi xác tín đều có thể trở thành dụng cụ để phục vụ quyền lục. Một thể chế dân chủ không có giá trị cần phải tôn trọng, là thể chế có thể biến thành ý thức hệ toàn trị hiển nhiên dễ dàng hay là một thể chế toàn trị ẩn nấp, như lịch sử chứng minh” ( ĐTC Gioan Phaolồ II, Centesimus Annus ( 1991), n. 46).

Và Ghi Chú Tín Lý giải thích thêm:

- “ một đàng, người dân có thể tự coi những lựa chọn luân lý của mình là những lựa chọn hoàn toàn tự lập, đàng khác các nhà lập pháp cho rằng họ tôn trọng quyền tự do lựa chọn vừa kể, khi họ soạn thảo ra những đạo luật mà không cần quan tâm gì đến các nguyên tắc luân lý tự nhiên, để biểu đồng tình với một vài khuynh hướng văn hóa hay luân lý tạm thời, làm như quan niệm nào liên quan đến đời sống đều có giá trị như nhau” ( Nota doctrinalis, đoạn 2).

Giáo Hội không hề nghi ngờ rằng thể chế dân chủ là một thể chế bảo đảm hữu hiệu hơn cho người dân tham gia vào đời sống chính trị của xứ sở. Tuy nhiên Giáo Hội không quên nhấn mạnh rằng không thể có dân chủ, nếu dân chủ không đặt nền tảng trên quan niệm đúng đắn về con người:

- “ Đối với nguyên tắc nầy - Ghi Chú Tín Lý xác quyết - người tín hữu Chúa Ki Tô dấn thân trong chính trị không thể có một nhân nhượng nào, nếu không, họ không đang làm chứng đức tin Ki Tô giáo nơi trần thế, thiếu sự hợp nhứt giữa các Ki Tô hữu với nhau và là thái độ bất nhất đối với lương tâm của chính họ(…).Chính sự tôn trọng đối với nhân vị làm cho người dân có thể tham gia thiết thực vào thể chế dân chủ ” ( đoạn 3).

Do đó trước những khuynh hướng tấn công chống lại phẩm giá con người, người tín hữu

- “có quyền và nhiệm vụ can thiệp để nhắc lại ý nghĩa sâu xa của đời sống và trách nhiệm mà mọi người phải có để bảo vệ” ( đoạn 4).

Điều đó có nghĩa là tạo một linh hồn luân lý cho thể chế dân chủ.


2 - Định hướng cho môi trường dân chủ đa nguyên.
Cũng chính những lý do đưa đến việc người tín hữu Chúa Ki Tô từ chối thái độ tương đối luân lý, là những lý do nền tảng cho quan niệm đa nguyên và đa dạng trong dân chủ.
Ghi Chú Tín Lý trình bày một sự phân biệt quan trọng:

- “ đa nguyên không liên hệ gì đến các nguyên tắc luân lý. Những nguyên tắc luân lý là những nguyên tắc phát xuất từ bản chất và do vai trò nền tảng cuộc sống xã hội, không thể “ mặc cả được” ( non negotiabilis)” ( đoạn 3).

Đa nguyên có thể hiểu

- “ là những chiến thuật chính trị khác nhau, do việc có thể cắt nghĩa nhiều cách khác nhau một vài nguyên tắc căn bản của lý thuyết chính trị, những kỹ thuật phức tạp cần thiết đối với phần lớn các vấn đề chính trị” ( id.).

Hiểu như vậy, đa dạng của các việc chọn lựa chính trị không những chính đáng, mà còn cần thiết cho đời sống dân chủ.
Bởi vì đa nguyên, đa dạng phát xuất từ chính bản thể của chính trị.
Chính trị được định nghĩa là là “ nghệ thuật của khả dĩ ” ( possibilitatis ars), bởi lẽ chính trị phải chạm trán và giải quyết những vấn đề phúc tạp, bị ảnh hưởng bởi nhiều điều kiện thực tế về xã hội, văn hóa, kinh tế và của nhiều lãnh vực khác nữa.
Ai có thể tự cho mình là nắm vững hết mọi khía cạnh của tình thế chính trị, nên để giải quyết không cần giải pháp nào khác hơn là giải pháp do chính mình đề ra?
Trong chính trường, để giải quyết một vấn đề có nhiều ý kiến chính tri khác nhau, nhiều khi đối ngược nhau, ngay cả giữa những người có cùng những ước vọng về giá trị và lý tưởng như nhau.
Do đó không ai có thể phủ nhận được

- “ tự do chính đáng của các tín hữu công giáo là có quyền chọn , giữa những khuynh hướng chính trị thích hợp với đức tin và lề luật luân lý, lựa chọn giải pháp nào theo tiêu chuẩn của mình thích hợp hơn cho các nhu cầu lợi ích chung ” ( đoạn 3).

Nhiệm vụ của người tín hữu Chúa Ki Tô phải
- hành động trung thực với đức tin và các nguyên tắc căn bản của luân lý,
- không cản trở họ có phán đoán khác nhau về phương thức thích hợp, mục đích ưu tiên, hiệu năng hay chuẩn định khôn ngoan đối với chương trình của chính đảng hay chính quyền.
Trên 30 năm qua, Đức Giáo Hoàng Phaolồ VI cũng đã đề cập:

- “Trong các trường hợp thực tế và liên hệ đến tình liên đới trong kinh nghiệm sống của mỗi người, cần phải nhìn nhận tính cách chính đáng của các việc chọn lựa khác nhau. Một đức tin Ki Tô giáo duy nhất có thể hướng dẫn những cuộc dấn thân khác nhau” ( ĐTC Phaolồ VI, Octogesima Adveniens, n.50).

Cũng trong chiều hướng đó Ghi Chú Tín Lý xác định một cách rỏ rệt hơn:

- “Có thể có nhiều chính đảng, trong đó các Ki Tô hữu có thể chọn tranh đấu để thi hành quyền và nhiệm vụ xây dựng đời sống văn minh cho xứ sở họ” ( đoạn 3).

Việc chọn lựa đó tùy thuộc vào lương tâm và tính nhạy cảm về các vấn đề xã hội - văn hoá của mỗi người:

- “ Giáo Hội không có bổn phận đưa ra những giải pháp thực tế - càng không thể là những giải pháp duy nhứt - đối với các vấn đề trần thế mà Chúa giao cho trí phán đoán tự do và có trách nhiệm của mỗi người, mặc dầu Giáo Hội có quyền và nhiệm vụ đưa ra những phán đoán luân lý đối với những thực tại trần thế, khi đức tin và lề luật luân lý đòi buộc” ( id.).


3 - Bản tính Ki Tô giáo và gia nhập chính đảng.
Tuy nhiên đa nguyên đa dạng không có nghĩa là dững dưng, sao cũng được, khuynh hướng nào cũng được, " cộng sản hay không cộng sản cũng vậy ! ",
Bản tính Ki Tô giáo bó buộc rất rõ rệt. Do đó mặt dầu tính cách chính đáng của những lựa chọn khác nhau, nhưng cần phải ý thức rằng:

- không phải bất cứ chương trình , bất cứ chính đảng, bất khuynh hướng chính trị nào cũng phù hợp với cái nhìn Ki Tô giáo và với giáo huấn của Giáo Hội.

Điều đó đặt người Ki Tô hữu trước một vấn nạn hệ trong: làm thế nào có thể vẫn trung thành với bản tính Ki Tô giáo, với lý tưởng của mình, nếu mình thuộc về một chính đảng hay một khuynh hướng chính trị trong đó
- mình không được phép diển tả hoàn hảo các giá trị mà mình tôn trọng,
- trong đó sự tôn trọng phương thức dân chủ đặt mình trước những lựa chọn đối ngược lại những giá trị không thể từ chối được của mình, như :
* phẩm giá toàn diện con người,
*mạng sống con người,
* gia đình, giáo dục,
* tự do tôn giáo,
* hoà bình?

Ghi Chú Tín Lý đòi buộc người Ki Tô hữu phải can đảm làm chứng trước công chúng:

- “Người công giáo, trong trường hợp nầy, có quyền và bổn phận rõ ràng phải can thiệp để nói lên ý nghĩa sâu xa của đời sống và kêu gọi mọi người có trách nhiệm đối với đời sống. Người tín hữu Chúa Ki Tô có chính trách nhiệm bắt buộc phải chống lại mọi luật lệ đuợc coi là phương hại đến đời sống con người” ( đoạn 4),

Những nhân chứng thôi, chưa đủ!
Trong khi công khai xác nhận mình bất đồng ý kiến và tuyên bố hoàn toàn ủng hộ các giá trị luân lý không thể khước từ được, người Ki Tô hữu trong chính trị còn phải xử dụng những phương tiện mà thể thức dân chủ cho phép để đạt được kết quả thực tế tốt đẹp nhứt có thể trong những hoàn cảnh khác nhau.
Ghi Chú Tín Lý lấy lại lời giáo huấn của ĐTC Gioan Phaolồ II về đạo luật phá thai:

- “một nghị viên, mà chính kiến cá nhân của mình tuyệt đối chống lại phá thai rõ ràng được mọi người biết, có thể dành sự ủng hộ của mình một cách chính đáng cho những đạo luật nhằm hạn chế những tai hại của những đạo luật đó và giảm thiểu các hậu quả không tốt đẹp trên bình diện văn hóa và luân lý công cộng ” ( ĐTC Gioan Phaolồ II, Evangelium Vitae ( 1995), n.73).

Một hình thức xử dụng các phương tiện dân chủ khác một cách khôn ngoan được Đức Hồng Y Carlo Maria Martini bàn đến. Dĩ nhiên nguyên tắc luân lý là những nguyên tắc luân lý tuyệt đối , bất di dịch, và hành động chính trị phải bắt nguồn từ các nguyên tắc đó, nhưng cũng dĩ nhiên là

- “hành động chính trị ” không phải chỉ nhằm thực hiện tức thời các nguyên tắc luân lý tuyệt đối, mà là thực hiện được công ích cụ thể có thể trong một hoàn cảnh xác định ”
(Card. Carlo Maria Martini, “ La Politica, via alla santità” ( 1998), in Martini C.M., Il Padre di tutti. Lettere, discorsi e interventi 1998, Bologna, EDB, 1999, p.290).

Nói cách khác, hành động chính trị luôn luôn thực hiện công ích một cách tuần tự, tùy theo những điều kiện thực tế có thể của hoàn cảnh.
Người Ki Tô hữu có thể phạm một lỗi lầm to lớn, nếu từ bỏ chính trị vì sợ “ oen ố ” bản tính Ki Tô hữu của mình hoặc “ bế quan tỏa cảng” trong trạng thái đứng “tách biệt ngoạn mục và trong sáng”, từ chối mọi đối thoại và cả có thể đối chọi đối với bất cứ ai, " bịt mắt, bịt tai ", " ở xa không biết ", " thấy vậy, lách sang rồi bỏ đi luôn ":

- “những bước tiến tích cực, dẫu cho tuần tự, có giá trị hơn là sự đóng kín quyết liệt của những phán quyết: ”không”, bởi lẽ thái độ đó không lợi ích gì về lâu về dài. Không phải mọi bước tiến chậm chạp đều chắc chắn là một cuộc nhượng bộ, bỏ cuộc. Ngoài ra còn có cái nguy là, muốn được cái tối hảo, người ta có thể xuôi tay ngồi chờ làm cho tình trạng càng ngày càng biến thành tệ hại hơn cho cuộc sống xứng đáng với con người ” (Card. C.M. Martini, C'è un tempo per tacere e un tempo per parlare ( 1995), Centro Ambrosiano, Milano 1995, 22s).

" Đối thoại, ngồi chờ chớ không đối đầu ", " mặc cho ai sống chết mặc kệ " trước những bất công phải gánh chịu !

4 - Đặc tính trần thế của chính trị.
Làm thế nào để có phương cách hành xử hoà hợp giữa bổn phận phải trung thành với bản tính Ki Tô giáo và các quy tắc chính trị?
Đó là điều Ghi Chú Tín Lý tiến thêm một bước nữa để hướng dẫn người tín hữu trong chính trị.
Muốn có sự hòa hợp vừa kể, cần phải biết “ trung gian điều giải” ( mediatio) giữa luân lý, tín lý và chính trị, để tránh hình thức “ chế độ giáo phẩm trị ” ( clericalismus) của những ai muốn áp dụng trực tiếp các giá trị Ki Tô giáo vào lãnh vực trần thế.
Đàng khác cũng để tránh thái độ thụ động “ nằm khoanh vỏ ốc ” ( quicumquismus), hay " lách sang rồi bỏ đi luôn", vô trách nhiệm của thầy tư tế và thầy thông thái luật trong câu chuyện người Samaritano nhân lành ( Lc 10, 29-37), của những ai không còn đếm xĩa gì đến lương tâm, nhân nhượng trước quyền thế để được hưởng một vài ân huệ tức thời, mặc cho bất công và đau khổ của anh em.
Ghi Chú Tín Lý đứng tách biệt khỏi “ chế độ giáo phẩm trị ” cũng như “ thái độ nằm khoanh vỏ ốc” bằng cách tuyên bố lại những ý thức mới về tín lý và mục vụ của Công Đồng Vatican II, cũng như của các Vị Chủ Chăn , nhứt là về vấn đề xã hội.
Cũng như những thực tại trần thế khác, chính trị có đặc tính thế tục ( laicité) của mình: chính trị
- có công ích là mục đích,
- có những quy tắc và phương tiện tự lập theo luật tự nhiên của bản thể các vật thọ tạo trong lãnh vực trần thế,
- mà đức tin và lãnh vực siêu nhiên không thể can thiệp trực tiếp giúp đở gì được.

Từ đức tin chúng ta không thể rút ra trực tiếp một khuôn mẫu tổ chức xã hội, hợp pháp hay chính đảng.

Đức tin không thể bãi miễn cho người tín hữu trách nhiệm và mạo hiểm trong hoạt động chính trị, cũng như bãi miễn cho họ khỏi nhọc tâm tìm kiếm những cách thức “ trung gian điều giải” ( mediatio) mà cuộc sống chính trị đòi buộc.
Đó là ý nghĩa tại sao Hiến Chế Gaudium et Spes khuyên bảo người tín hữu giáo dân:

- “ Họ ( người tín hữu giáo dân) nên trông đợi ở các linh mục ánh sáng và sức mạnh thiêng liệng. Nhưng họ đừng nghĩ rằng các chủ chăn của họ có thẩm quyền để đưa ra giải đáp thiết thực và lập tức đối với mọi vấn đề, ngay cả đối với vấn đề hệ trọng có thể xãy ra cũng vậy, hay đó là sứ mạng của các vị. Đúng hơn, được soi sáng bởi đức khôn ngoan Ki Tô giáo, luôn chú tâm một cách trung thành đến lời giảng huấn của chủ chăn, chính họ hãy đứng ra nhận lãnh trách nhiệm của mình” ( Gaudium et Spes, n.43,2).

Theo Ghi Chú Tín Lý thì đặc tính trần thế của lãnh vực thế tục là

- “đặc tính tự lập của lãnh vực dân sự và chính trị đối với lãnh vực tôn giáo và Giáo Hội , giá trị mà lãnh vực dân sự và chính trị đạt được và được Giáo Hội nhìn nhận và là thành phần mà kho tàng văn minh của con người có được” ( đoạn 6).

Bản Ghi Chú Tín Lý cũng ghi lại lời giảng huấn của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolồ II nhân Ngày Thế Giới Cho Hoà Bình:

- “ Đồng hóa lề luật tôn giáo với luật lệ dân sự là thực sự bóp nghẹt tự do tôn giáo và giới hạn hay không công nhận ngay cả các quyền bất khả nhượng của con người ” ( Giovanni Paolo II, Messaggio per la celebrazione della Giornata Mondiale della Pace 1991, IV, AAS 83 ( 1991), 410-421).
Và bản Ghi Chú Tín Lý kết luận:

-“Sự công nhận các quyền dân sự và chính trị cũng như cung cấp các phục vụ công cộng không thể bị ảnh hưởng bởi các xác tín hay các cách hành xử hiệu năng trong lãnh vực tôn giáo của nguời dân” ( đoạn 6).

Nói như vậy, bản Ghi Chú Tín Lý lưu ý, tự lập đối với lãnh vực tôn giáo không có nghĩa là tự lập đối với lãnh vực luân lý.
Các giá trị luân lý căn bản ( đối với đời sống xã hội, công bằng, tự do, hòa bình, tôn trọng đời sống và tôn trọng quyền các quyền khác, tôn trọng đối với nhân vị con người) phù hợp với tín lý Ki Tô giáo không có nghĩa là những giá trị đó đương nhiên trở thành những giá trị của “ chế độ giáo phẩm trị ” hay giảm bớt đi tính cách chính đáng (légitimité) dân sự và đặc tính trần thế ( laicité) của việc dấn thân chính trị.
Đàng khác, với những điều được gởi đến các tín hữu Chúa Ki Tô, Ghi Chú Tín Lý xác nhận:

- “ Các Chủ Chăn của Giáo Hội không có ý xử dụng quyền lực chính trị , cũng không có ý từ chối tự do của người tín hữu công giáo đối với các vấn đề trần thế. Trái lại các Ngài muốn, như là chính bổn phận của các Ngài đòi buộc, dạy dỗ và soi sáng lương tâm các tín hữu, nhứt là đối với những tín hữu dấn thân vào đời sống chính trị, để cho hành động của họ luôn luôn nhằm phục vụ thăng tiến toàn vẹn con người và công ích ” ( đoạn 6).

Do đó đặc tính trần thế và tự lập của người tín hữu Chúa Ki Tô, nhứt là người tín hữu giáo dân, dấn thân chính trị vẫn tồn tại nguyên vẹn.
Với một nhãn quang xa hơn nữa về tương lai, bản Ghi Chú Tín Lý khuyến khích người tín hữu trong chính trị có một cái nhìn mở rộng:

- “Không đầy đủ và hạn hẹp, nếu có ai nghĩ rằng việc dấn thân của người tín hữu chỉ đơn giản nhằm vào việc thay đổi các cơ chế hiện tại ” ( đoạn 7).

Người tín hữu

- không thể xoa tay thỏa mãn với việc đơn giản đạt là được kết quả nầy hay mục đích kia,
- mà không nghĩ gì đến việc phải tham gia vào việc soạn thảo dự án toàn phần để tổ chức xã hội ( id ).

Người tín hữu được kêu gọi “ trung gian điều giải ” ( mediatio) các giá trị luân lý căn bản , là những giá trị thuộc kho tàng Ki Tô giáo, thành những giá trị cho con người, được mọi người chấp nhận.
Ngưòi tín hữu tôn trọng tính cách đa nguyên và đa dạng, đặc tính trần thế và tính cách hợp pháp dân chủ, không được phép “ dững dưng đứng ra bên lề ” đối với lãnh vực thiêng liêng và văn hóa.
Làm như vậy họ đang làm tiêu hao đến sứ mạng nhân chứng Phúc Âm của họ và biến các nổ lực dấn thân chính trị của họ dần dần trở thành vô hiệu lực.
Nói cách khác, người tín hữu được kêu gọi “ hội nhập văn hóa” ( inculturation), “ trung gian điều giải ”các giá trị của kho tàng Ki Tô giáo vào lãnh vực văn hóa và chính trị.

Nguyễn Học Tập

Nguồn: http://www.thegioinguoiviet.net/showthread.php?t=14442





TÔN GIÁO VÀ CHÍNH TRỊ

Bảo quốc Kiếm

Trong bài "Công giáo và chính trị", tiến sỹ Nguyễn học Tập đã cho chúng ta một bài học quí giá về khái niệm cũng như tinh thần của nhập thế của "công giáo".

Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy rằng, biện minh cho việc "tục hóa tôn giáo" là điều hơi khó chấp nhận. Từ xưa nay, dù định nghĩa cách nào đi nữa, thì con người cũng hiểu tôn giáo là một lý tưởng siêu phàm, thoát tục. Nó không thuộc và không thể bị tục hóa. Nếu bị tục hóa đi rồi, thì tôn giáo không còn là tôn giáo nữa. Thật là đáng tiếc lắm vậy!!!

Điều trước hết tôi muốn nói đến là, trong thế giới con người hiện nay có rất nhiều tôn giáo, mà mỗi vị giáo chủ, tùy vào trí huệ của họ đạt đến mức nào đó, các Ngài diễn thuyết quan niệm riêng về cách hoàn thiện con người.

Điều đó có nghĩa là không một quan niệm nào có thể tự xem mình đứng lên trên quan niệm khác; không thể áp đặt quan niệm của mình cho người khác. Mỗi một con người cũng tùy theo nhận định của mình mà tin theo một khái niệm nào đó. Có những tôn giáo không cần đến trí huệ để lý giải, chúng ta chỉ cần tin là được.

Có những tôn giáo phải dùng đến trí huệ sáng suốt để soi chiếu vào tự tâm mà tìm hiểu và giác ngộ....và họ có tất cả "tự do" để làm công việc ấy.

Tiến sỹ Nguyễn học Tập cho biết

:"Con người được ban cho trí khôn và lòng ước muốn tự do..."

Nhưng chắc chắn Thiên chúa không cho mọi người đồng đều như nhau, do vậy thiên hạ mới có thiên hình vạn trạng; đặc biệt là cho nhiều giáo chủ ra đời, và mỗi vị cho chúng ta mỗi cái khôn khác nhau. Vậy thì cái khôn nào cũng từ Thiên chúa; cho nên khác nhau mà không khác, không đối địch nhau.

Do vậy, con người đi theo con đường nào thì cũng đã được Chúa "mặc khải" rồi!!! Chúng ta lại được TS trích lời đức GH Gioan Phao lô II : " Nhiệm vụ của đức GH là rao giảng phúc âm, cho thấy sứ mạng của giáo hội là sứ mạng tôn giáo; không thuộc về lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội". Tiếc thay, TS đã dẫn chúng ta qua một ngõ khác :"Sứ mạng tôn giáo và siêu nhiên của giáo hội không tách rời giáo hội ra khỏi dòng lịch sử của nhân loại và tách biệt xa mọi thực tại trần thế. Bởi vì giáo hội rao truyền sứ điệp phúc âm trong trần thế, được chúa Giêsu thiết lập nên để hoạt động và tăng trưởng ở giữa trần thế".

Chưa đủ đâu, TS còn cho chúng ta nghe thêm:" Giáo hội can thiệp vào các lãnh vực trần thế trên phương diện luân lý, bởi vì luân lý liên hệ mật thiết với lãnh vực siêu nhiên, phần rỗi của con người......nên giáo hội có thẩm quyền can thiệp vào các vấn đề xã hội, kinh tế và chính trị khi các vấn đề đó có liên quan đến lãnh vực luân lý".

Ngang chỗ này, tôi thấy khó mà nuốt nỗi những biện luận này. Thứ nhất : Có tôn giáo nào không phục vụ con người, và như vậy tất cả các tôn giáo đều phải làm chính trị, kinh tế, xã hội... cả hay sao ? Như vậy, thế nhân đâu cần tôn giáo nữa!!! Theo cái nghĩa chung chung thì, tôn giáo sở dĩ ra đời là để giải quyết những việc mà thế tục không làm được.

Những chuyện cao siêu quá, khó khăn quá, nó nằm ngoài sự tưởng tượng của con người. Nó`phải giải quyết vấn đề "tâm linh", chứ không phải chỉ giải quyết những "thường tại" thấp kém. Theo ngu ý thì, TS Nguyễn học tập đã kéo tôn giáo xuống quá thấp, để cho tôn giáo tranh chấp với "sự ngu muội" của thế gian. Chính vì hiểu tôn giáo theo nghĩa ấy, nên CSVN nói riêng, đã trù dập, tiêu diệt tôn giáo.

Xin hãy trả lại cho tôn giáo cái địa vị mà tôn giáo đáng có !!! Thứ hai : "giáo hội có thẩm quyền can thiệp", là điều không thể chấp nhận. Thẩm quyền ấy do ai ban phát ? Nếu nói là Thượng đế thì chỉ có thể nói với hàng tín hửu mà thôi. Bởi vì, những người không tin Thượng đế, không chấp nhận sự hiện hửu của Thượng đế thì sao ? Cho dù hiện nay, Thiên chúa giáo có số giáo dân mà không tôn giáo nào bì kịp; nhưng không phải là toàn nhân loại.

Không thể áp đặt một lý luận riêng mình cho một tập thể con người. Điều này TS đã dạy ở trên rồi: "Con người được ban cho trí khôn và lòng ước muốn tự do". Hơn nữa, giáo hội không phải là Thiên chúa; giáo hoàng không phải là Thiên chúa, mà là "cũng một con người" như Chúa đã ban cho tất cả.

Nếu nói rằng Giáo hoàng là bậc sáng suốt nhất, không lỡi; thì TS giải thích thế nào về những sai phạm như những Tòa án dị giáo, như lời phán chia hai địa cầu cho Bồ, cho Tây....? mà sau này các vị kế nhiệm đã xin lỗi??? Nếu nói thẩm quyền từ thế tục, thì Ngài chỉ việc có thẩm quyền nơi nào người ta cho phép Ngài thôi chứ. Thẩm quyền thế gian do thế gian định đoạt; mà thế gian này có rất nhiều quốc gia, chính quyền riêng lẽ.

Ngài chưa hề, và tôi nghĩ không hề có tham vọng làm vua cả thế giới. TS gán ghép cho Ngài như thế chỉ làm hại cho Ngài và cho giáo hội về một âm mưu nhuộm đen thế giới mà thôi.

Tôi van xin Tiến sỹ.

Đọc thêm một đoạn nữa, tôi mới ngã ngữa ra rằng, té ra TS Tập có lý, khi ông trích dẫn tài liệu của Thánh bộ tín lý, và hướng dẫn như sau :" đồ án tổ chức xã hội của giáo hội , một nền văn minh tình thương, được đặt nền tảng thần học trên phúc âm về con người, nhưng rồi phải được diễn giải ra bằng "những đồ án hành động táo bạo" để phóng thích hàng triệu người ra khỏi các mối áp bức xã hội, kinh tế và chính trị".

Đến đây, tôi hiểu thêm được một chút ít nữa. Thì ra Giáo hội Thiên chúa giáo La mã đã và đang âm mưu đưa thế giới vào quỷ đạo của họ : "Nền văn minh tình thương" gì đó.

Điều này là một nguy cơ toàn cầu. Còn khủng khiếp hơn nữa khi đọc :"Giáo hội không những có quyền và bổn phận bảo vệ các nguyên tắc luân lý và tôn giáo, mà còn có uy quyền can thiệp vào trật tự trần thế, mỗi khi cần phải phán đoán chuẩn định việc áp dụng các nguyên tắc trên vào các trường hợp thực tế". Xin lỗi, ngang đây tôi hàn toàn phản đối, dù đầu tôi có lìa khỏi cổ.

Tôi tin tưởng suy nghĩ của tôi đúng, ĐÚNG THEO THÁNH KINH,và không cho phép ai nhân danh Thượng đế để chống lại Thựơng đế.

Thượng đế, theo dẫn kinh của TS Tập "đã ban cho trí khôn và lòng ước muốn tự do". Thì bất cứ ai cũng không có quyền áp đặt lên đầu kẻ khác một mẫu mực nào cả.

Thượng đế đã nói như vậy !!! Tôi muốn tự do, và Thượng đế đã ban cho tôi tự do, do đó việc trần thế là việc của chúng tôi. Tổ chức xã hội theo mô hình nào, luân lý, tập tục của chúng tôi ra làm sao, kinh tế, chính trị, xã hội...như thế nào,đã có sẳn trong trí khôn mà Ngài ban cho rồi, Ngài đã "mặc khải" rồi.

Giáo hội cũng chỉ là một tập hợp nhỏ của những con người bằng xương, bằng thịt; và trong một quá trình lâu dài đã phạm quá nhiều sai lấm. Trong khi xã hội con người đang bị nạn nhân mãn, các nhà khoa học đưa ra phương pháp ngừa thai, thì giáo hội phản đối. Khi những cặp người "đồng tính" yêu cầu được lấy nhau thì giáo hội cũng phản đối, như thế có nghĩa là gì ? Giáo hội giải quyết thế nào ?

Nếu nói rằng trái ý Thượng đế, thì giáo hội đang làm trái ý Thượng đế, chứ không phải họ.

Họ cũng được sinh ra cả hồn lẫn xác từ một Thượng đế duy nhất như các ngài, cũng có cùng trí khôn như các ngài, cũng được ban cho "tự do" như các ngài,vậy các Ngài lấy uy quyền từ đâu để bắt con người không được làm như thế này, mà phải làm thế nọ ? Nếu các Ngài thật sự là Thượng đế con, thì sao quả đất tròn lại nói vuông ? Quả đất quay lại nói đứng....?

Hơn nữa, trong thực tế, các Ngài đứng đầu một tôn giáo, như các tôn giáo khác, các Ngài lấy UY QUYỀN ở đâu để bắt họ phải theo khi ngừời ta không công nhận Ngài. Không phải chỉ các Ngài mới có Thượng đế, mà ngay cả dân tộc bán khai cũng có riêng Thượng đế của họ. Mỗi thượng đế lại mang một tính cách khác nhau, một uy quyền và linh ứng khác nhau.

Bởi vì Thượng đế là do con người nói ra theo tưởng tượng của họ. Sở dĩ tôi phải nói đến những điều này là vì một nhóm chữ quá ghê tởm "NHỮNG ĐỒ ÁN HÀNH ĐỘNG TÁO BẠO".

Thế nào là táo bạo trong ý niệm tôn giáo ? Tôi chưa từng nghe vị giáo chủ nào nói về điều này. Sự giáo dục bởi tôn giáo, không lẽ phải cần thêm bạo lực ? Thế giới con người đã quá chán chường với bạo lực, người ta đi tìm một sự giải quyết không bạo lực cho tâm hồn; đi tìm sự khoan hòa của tôn giáo, chứ không phải đi tìm đến một đảng phái bạo động, tranh chấp, thủ tiêu, ám sát...

Tại sao phải làm "táo bạo", mà không làm bằng lòng thương yêu, sự nhu nhuyến ? Tại sao không RAO GIẢNG mà phải ÁP ĐẶT ? Tôi tin một cách tuyệt đối rằng Thượng đế và đức Giêsu không nói như vậy. Mặc dù tôi là người ngoại đạo, nhưng từ tấm bé tôi được sống gần gũi với một vị linh mục Tiến sỹ thần học và với các bà Xơ. Các vị ấy thương yêu và giảng giải cho tôi nghe về Chúa khá nhiều.

Khi lớân lên tôi tìm đến một tôn giáo khác, nhưng không vì thế mà tôi quên đi lời giáo dưỡng của ngài. Ngài dạy tôi rằng :" Đức Chúa Giê su bảo rằng , nếu ai tát má bên phải của con, thì con hãy đưa má bên trái cho họ".

Thật tuyệt vời ! Thật siêu quá tâm tưởng của tôi ! Chỉ có Thánh hiền mới làm được như thế ! Tôi cảm nhận một cách sâu sắc rằng, ngài đã truyền dạy cho con người tu tập hạnh nhẫn nhục.

Thế gian tầm thường thì ĂN MIẾNG TRẢ MIẾNG mới cho là công bình hợp lý. Nhưng Thánh nhân thì không thế. Các ngài dẫn dắt con người bằng ngôn từ vô ngôn, bằng Nhẫn nhục, bằng Bác ái, bằng lòng thương vô hạn. Đến lúc đó tôi mới thật sự hiểu là tại sao đức Giêsu, "con một của Thượng đế", không đến thế gian bằng con đường sang cả, mà phải đến thế gian bằng cách thị hiện trong đám dân nghèo khó, sinh ra trong một hang lừa tồi tàn dơ dáy.

Với tư cách "con một của Thượng đế", ngài có thể hóa thân làm vị Đại vương, và tuyên bố "Ta sẽ cai quản thế gian", như vậy đối với Ngài thì quá dễ. Nhưng tại sao Ngài không làm như thế ? Ngài phải đến trong nghèo khó, đến bằng thân phận tồi tàn để xiển dương sự cao quí vô tận của con người trước Tánh Linh của Thượng đế.

Ngài chỉ dạy con người rằng, không phải từ trên ngôi cao sang cả, nơi sự giàu sang, con người mới có thể tìm về với Cha mình; mà bất cứ ai, dù nghèo khổ đến đâu, dốt nát đến mực nào, cũng có thế tìm về nơi tối Chân, tối Thiện, nơi Cha mình đang sống :Thiên đàng. Ôi cao cả thay một hành động tuyên dương sự NHẪN NHỤC. Bằng con đường nhẫn nhục, Ngài đã chết trên cây thập giá để chuộc tội cho thiên hạ.

Ngài là Thượng đế, Ngài không cần ai báo thù cho Ngài cả. Bởi thế gian u mê tội lỗi, nên Ngài mới thị hiện để chuộc tội. Con đường Ngài đi là con đường NHẪN NHỤC, chứ không phải là con đường TÁO BẠO. Ngài chịu chết để cho loài người sống còn trong "trí khôn và sự tự do" mà Thiên chúa, cha Ngài đã ban cho họ. Ngài không dạy phải áp đặt lên thế gian này một mô hình nào cả, bởi làm như thế là trái ý Thượng đế.

Ngài dạy hãy "rao truyền" phúc âm để cải tà, cải ác; để gần gũi với Tánh Linh, về với Thượng đế khi con người không còn có quyền sống trện thế gian này nữa. Xem vậy, thì chức trách của Giáo hội là tìm cách đưa con người về với Thượng đế bằng cách giáo hóa họ, lo cho đời sau, chứ không phải là hiện tại, là kinh tế, là chính trị, là văn hóa...

Và chính đó là ý nghĩa chung của Tôn giáo vậy.

Câu thứ hai mà tôi hằng khắc sâu vào tâm khảm là :" Hãy thương yêu mọi người như chính con vậy ".

Thế nào là thương yêu ? Khi ta thương chính mình thì không lẽ ta tàn hại chính mình ? Trong ý nghĩa của tôn giáo, sự thương yêu là lòng tha thứ, sự nhẫn nhục, sự gần gũi, sự giúp đỡ...mà tuyệt nhiên không có sự bắt buộc, áp chế, sự áp đặt. Tranh luận để tìm hiểu, chứ không phải tranh chấp. Như vậy, để thực hiện lời tha thiết của đức Giê su, chúng ta hãy biết tha thứ cho nhau, giúp đỡ cho nhau....và đừng bao giờ bắt buộc người khác làm một điều gì mà họ không ưa thích.

Trong lãnh vực Quốc gia, Dân tộc cũng thế, mỗi quốc gia, dân tộc họ có những quan niệm sai thù, tùy theo căn tính, trí huệ của từng loài, từng giống, từng địa phương..họ có quyền tự do để chọn lựa; bởi vì hậu quả của sự chọn lựa do chính họ gánh chịu. Nói như thế không phải các tôn giáo không giúp họ, khi bị cường quyền gian ác áp bức họ.

Tôn giáo có quyền, vì tôn giáo cũng có mặt trong trần thế, và có bổn phận giúp họ, vì tôn giáo bao gồm một tập thể nhỏ con người; vì thực hiện lời yêu thương mà Chúa đã dạy, chúng ta cần làm như thế.

Tuy nhiên, phương thức hành động phải không giống thế gian.

Hãy giáo hóa kẻ ác, hãy giúp đỡ kẻ khó... bằng tình thương, chứ không phải bằng bạo lực. Bằng ngôn ngữ chứ không phải bằng súng đạn. Phải tránh xa cái quan niệm trần thế rằng, ĂN MIẾNG PHẢI TRẢ MIẾNG; thế rồi bạo lực lan tràn, con người dãy chết trong ngu muội. Tôn giáo phải đứng lên và ra ngoài tranh chấp thế gian- không nên và không thể làm chuyện thế gian. Mục tiêu hướng thượng của tôn giáo là hoàn thiện con người, thánh hóa con người bằng phương thức tối ưu của tôn giáo.

Do vậy, tôi nghĩ, tôn giáo không thể nào tự kéo mình xuống thấp dưới quan niệm thế gian vì hai lẽ : Một là: Hành động như thế là làm nhục vị Giáo chủ của mình, coi những lời dạy siêu việt của các ngài ngang hàng với ngu muội trần thế.

Thứ hai : Đã là các nhà tu hành, tất nhiên không rành rẽ chuyện đời thường như kinh tế, chính trị, xã hội....thì việc nhúng tay vào chỉ làm cho xã hội thêm rối. Lợi bất cập hại. Cứ nhìn vào đảng CSVN thì thấy, ngay cả chúng là người làm chính trị, nhưng để lện trên đầu là những tên không biết gì về điều hành quốc gia, không kinh nghiệm, không học thức- kết quả ôm lấy cái xác họ Hồ và một nhúm chủ nghĩa sai quấy để tàn hại quê hương, làm chết đồng bào. Tôi không biết TS Tập có bằng lòng với sự áp đặt XHCN của cọng sản hay không, có thỏa mãn với những khủng bố của người Hồi giáo hay không; nếu không, thì xin hãy đừng đưa Tôn giáo vào chính trị.

Chúng tôi lại rất ngỡ ngàng khi đọc :"Giáo hội đề ra khuôn mẫu tổ chức xã hội, một nền văn minh tình thương, trong đó con người với địa vị cao cả có được một cuộc sống với nhân phẩm của mình". Điều thứ nhất, tôi tự hỏi : Con người trong Thánh kinh là gì ? Là đất sét: Do Chúa nặn ra. Con người trong giáo hội là gì ? Là con thú : CON CHIÊN, và người cán bộ của Vatican là gì ? Là chủ nhân ông của bầy thú :CHỦ CHĂN.

Ngay trong Thánh kinh và giáo hội không có một CON NGƯỜI THỰC SỰ, thì làm gì có NHÂN PHẨM để mà sống với, để mà hoàn thiện ??? Và ngay cả khi sống theo Chúa trọn lành rồi lên Thiên đàng cao cả, thì con người cũng trở thành TÔI TỚ Chúa mà thôi. Như đã trích dẫn, thì con người làm gì có "Địa vị cao cả" như TS Tập đã nói, và thực sự không có tự do.

Ngay tại Việt nam, tôi đã từng chứng kiến cảnh ĐẠO yêu NGỌAI ĐẠO , đã dẫn đến nhiều cái chết thê thảm, hoặc ôm hận suốt đời.

Tôi đã từng hỏi, và từng nghe câu trả lời rằng :" Giáo hội không cho phép, cha mẹ không cho phép. Họ luôn luôn bắt buộc đối phương "PHẢI TRỞ LẠI" thì mới được. Nếu không thì sẽ đuổi ra khỏi đạo, kể cả cha mẹ chúng- chưa nói đến những hình phạt nào đó có thể xảy ra. Như vậy thì tự do ở đâu chứ ? Khi nói đến "khuôn mẫu tổ chức xã hội", thì chắc chắn cái mẫu tổ chức của Giáo hội là chủ yếu : "Giáo hoàng, Hồng y, Tổng giám mục, Giám mục, Linh mục, Bầy chiên".

Nhưng tổ chức này, ngay trong hiện tại thì nhóm Dân Chủ Đa Nguyên đang phản bác mạnh mẽ, họ cho rằng đây là HỆ THỐNG NHẤT NGUYÊN KHỔNG GIÁO.

Cũng trong ý ấy, tôi thấy CSVN cũng có mô thức tương tự : "Tổng bí thư, UV Bộ chính trị, UV trung ương, Tỉnh ủy viên, Huyện ủy viên, Xã ủy viên, Đám dân nô lệ". Như thế thì, mô thức này không có gì mới mẽ. Hơn nữa trong các nước toàn giáo như Phi luật tân, Mễ tây cơ...là xứ mà có 90 phần trăm "công giáo", chắc đã được Giáo họi thực hiện mấy trăm năm rồi, nhưng những xã hội ấy đến nay như thế nào chắc TS Tập cũng đã thấy.

Một cách rất thấp hèn mà nói thì, xã hội con người rất đa dạng, vì tùy thuộc nhiều yếu tố xã hội, việc tạo một MÔ THỨC CHUNG để cầm quyền thì e không đúng Thiên ý, vì chính Ngài đã MẶC KHẢI như thế. Nếu làm được thì Ngài đã làm rồi, đợi chi đến hậu thế vô năng. Trong thực tế, chúng ta thấy, đứa trẻ mới sinh cũng đã biết TƯ HỬU rồi, miệng bú một cái vú, tay khác ôm cái vú còn lại; giá như cha nó nghịch ngợm lấy tay nó ra, thì nó sẽ phản đối bằng tiếng khóc, bằng sự cấu cào dù vô vọng.

Xem thế đủ biết, Thượng đế đã AN BÀI quyền TƯ HỬU ngay khi mới chào đời. Cọng sản làm sai, nghĩ quấy với Thượng đế, nên đang trên đà sụp đổ toàn diện. Không thể nào chúng ta lặp lại những sai trái ấy !!! Thượng đế đã "ban cho trí khôn và lòng ước muốn tự do", thì việc muốn "gộp chung" là cướp mất tự do của nhân thế vậy, là làm sai ý Thượng đế vậy !!! Hãy để cho CON NGƯỜI tự lựa chọn nếp sống mà họ thích, con đường mà họ muốn, xã hội mà họ mơ ước như TÁNH LINH hiện hữu trong họ.

HÃY TÁCH RỜI TÔN GIÁO KHỎI CHÍNH TRỊ

Một xã hội văn minh nhất như Mỹ cũng không cho phép Tôn giáo lẫn lộn với chính trị huống chi nước nhỏ, nước nghèo, dân dốt. Hãy trả lại vị trí SIÊU VIỆT THẾ GIAN của tôn giáo, đừng níu kéo nó xuống địa vị thấp hèn, dấn thân vào con đường tội lỗi.

BQK-24-8-04 ---------VIQR------------------------

Nguồn: http://www.greenspun.com/






    Gợi Ý Tham Luận


 
 Chức năng của các giáo sĩ / tu sĩ (giáo hội) là giúp cho con người thăng hoa trong đời sống tâm linh.

  Chức năng các chính trị gia (nhà cầm quyền) là giúp cho con người thăng tiến trong đời sống vật chất.

  Đời sống tâm linh và vật chất của một con người không thế tách ra  làm hai không thể độc lập nhau mà phải ở trong một bản thể sinh động...? Cái bản thể của một con người gồm hai phần tâm linh và vật chất hay nói cách khác là tâm hồn và thể xác...? Tuỳ theo sinh hoạt trong xã hội và cá nhân mà hai phần nầy quân bình hay sai lệch , nặng về tâm linh hay nặng về vật chất, nhưng luôn luôn có hai phần trong một con ngươì trên trái đất nầy...?

  Một con người có đời sống tâm linh thấp kém, bị đơì sống vật chất khống chế thì có thể hành xử như một dã thú, tranh giành, chém giết nhau vì lợi nhuận và quyền bính ...!? Noí cách khác một con ngươì vô thần (bị vật chất khống chế = duy vật) hành xử thiếu vắng những giá trị nhân bản...?!

  Một người mang một đời sống tâm linh cao trọng hơn vật chất thì là một công dân tốt, tạo dựng một xã hội an lạc và thế gian nầy thành thiên đàng, thế giới bình an và hạnh phúc ...?

  Tách rời tôn giáo ra khỏi chính trị thì chính trị gia (nhà cầm quyền) là một người trại chủ của lao trại và nhà giam khổng lồ như trong chế độ cuả Stalin, Amin, Pol Pot, Mao Trạch Đông và Hồ Chí Minh..!?

  Lợi dụng tôn giáo cho mưu đồ chính trị  hay dùng một giáo lý hay giáo điều nào đó cuả một tôn giáo làm quốc giáo hay dùng giáo quyền thay cho quốc quyền thì một chế độ chuyên chính, độc tôn và độc tài phát sinh..? Sự cấu tạo và hình thành cuả con ngươì và vạn vật không phải đơn độc mà là đa nguyên...? Sự hình thành và sinh hoạt cuả xã hội loài ngươì là đa nguyên, đa dạng, đa văn hoá và đa tôn giáo...?

 Sự tương quan giữa giáo quyền (tôn giáo) và quốc quyền (chính trị) là một sự lưỡng hợp tương sinhnhân quyền cao trọng hơn hết, bởi vì con ngươì là gốc, ngọn và đối tượng phục vụ cuả tôn giáo (giáo hội) và chính trị (nhà cầm quyền) ...? Vì giáo quyền hay quốc quyền mà coi thường nhân mạng và nhân quyền là một hành vi vô nhân đạo, phi nhân bản không thể chấp nhận được trong thế kỷ thứ 21 cuả nhân loại. ?
 
 Giáo sĩ/tu sĩ (giáo hội) không nên tham chính hay can dự vào quốc quyền mà nên làm cố vấn tâm linh cho các chính trị gia (nhà cầm quyền) bởi vì một nhà tu tốt không thể thành công trong chính trường (như Đức Huỳnh Giáo Chủ và Đức Đạt Lai Lạt Ma). Chính trị gia (nhà cầm quyền) nên tham khảo ý kiến với các giáo sĩ/tu sĩ của tất cả các tôn giáo trong một nước để hoạch định những kế sách cho mục đích : "An Dân và Lạc Quốc" là thựơng sách kế ...? Là thực thi một thể chế dân chủ đa nguyên, đáp ứng được nguyện vọng thiết thực cuả quốc dân đồng bào.?

Kính mời quí vị và các bạn tham luận. Kính xin vui lòng gởi điện thư đến địa chỉ dưới đây.


Trân trọng kính mời .



Trang mạng Việt Nam Văn Hiến
Trang Tham Luận về Tôn Giáo và Chính Trị
www.vietnamvanhien.net
email: thuky@vietnamvanhien.net

Trang mạng Việt Nam Văn Hiến là nơi bảo tồn di sản văn hóa của Việt tộc
và phục hồi nền An Lạc & Tự Chủ.



Trở lên đầu trang

Trở Lại Trang Mặt